20-06-26 MTParners
Công văn 250/TANDTC-PC vừa công bố hướng giải quyết hàng loạt tình huống gây tranh cãi tại tòa — từ bị đơn “mất tích”, khởi kiện thừa kế khi chưa rõ di sản, đến yêu cầu phản tố của bị đơn.
Ngày 9/5/2026, Tòa án nhân dân tối cao công bố toàn văn Công văn số 250/TANDTC-PC, tổng hợp 38 giải đáp vướng mắc trong xét xử, trong đó 14 nội dung liên quan trực tiếp đến dân sự, tố tụng dân sự và kinh doanh thương mại. Văn bản gỡ vướng cho nhiều tình huống tố tụng phổ biến mà người dân, doanh nghiệp thường gặp khi kiện ra tòa: bị đơn cố tình giấu địa chỉ, khởi kiện thừa kế khi chưa rõ di sản, hay yêu cầu trả lại tiền thừa của bị đơn có phải là phản tố hay không.
Một trong những vướng mắc phổ biến nhất tại các tòa án nhân dân khu vực là tình trạng bị đơn thay đổi nơi cư trú, không khai báo địa chỉ mới hoặc cố tình lẩn tránh để vụ án bị kéo dài, thậm chí bị tạm đình chỉ vì “không xác định được địa chỉ bị đơn”. Tại Công văn 250/TANDTC-PC, Hội đồng Thẩm phán khẳng định rõ: nếu có căn cứ xác định bị đơn cố tình giấu địa chỉ nhằm trốn tránh nghĩa vụ tố tụng,
“trường hợp này Tòa án phải xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.”
Tòa án áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP để tiếp tục thụ lý, xét xử theo thủ tục thông thường, thay vì để vụ án bị treo vô thời hạn chỉ vì nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ chính xác của bị đơn.
Một vướng mắc khác thường gặp trong các vụ tranh chấp thừa kế: tại thời điểm nộp đơn, người khởi kiện chưa có đủ tài liệu chứng minh người để lại di sản thực sự có tài sản. Nhiều tòa án trước đây có xu hướng trả lại đơn khởi kiện với lý do “chưa đủ điều kiện khởi kiện” theo Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Công văn 250 khẳng định cách hiểu này là chưa đúng:
“tại thời điểm khởi kiện người khởi kiện không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh là người chết có để lại tài sản thì không thuộc trường hợp ‘chưa đủ điều kiện khởi kiện’… nên Tòa án vẫn phải xem xét thụ lý vụ án.”
Việc chứng minh có hay không có di sản, và di sản gồm những gì, là nội dung cần được làm rõ trong quá trình giải quyết vụ án — không phải điều kiện bắt buộc phải có sẵn trước khi tòa thụ lý.
Trong các vụ tranh chấp hợp đồng vay, mua bán, nhiều trường hợp bị đơn cho rằng mình đã trả thừa tiền cho nguyên đơn và yêu cầu được nhận lại phần chênh lệch. Theo giải đáp tại Công văn 250, đây phải được xác định là yêu cầu phản tố theo Điều 200 BLTTDS, kéo theo các quyền và nghĩa vụ tố tụng tương ứng (như nghĩa vụ chứng minh, án phí đối với phần yêu cầu phản tố), thay vì chỉ được xem là một ý kiến trình bày đơn thuần trong quá trình tranh tụng.
Công văn cũng giải đáp thêm một số tình huống đặc thù khác: tranh chấp hợp đồng vay tài sản là vàng (tòa buộc trả lại bằng vàng, chỉ quy đổi ra tiền để tính án phí theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm); hay phạm vi xét xử phúc thẩm khi tuyên hợp đồng vô hiệu — tòa phúc thẩm có thể sửa án thay vì hủy án nếu chứng cứ đã được bổ sung đầy đủ tại cấp phúc thẩm.
Những giải đáp này có ý nghĩa trực tiếp với hàng nghìn vụ tranh chấp dân sự đang hoặc sắp được giải quyết tại các tòa án nhân dân khu vực và cấp tỉnh. Việc thống nhất cách hiểu sẽ giúp giảm tình trạng vụ án bị trả đơn, tạm đình chỉ hoặc kéo dài không cần thiết vì vướng mắc thủ tục — đặc biệt trong giai đoạn hệ thống tòa án đang vận hành theo mô hình hai cấp mới. Đồng thời, văn bản cũng là cơ sở để các bên trong tranh chấp dự liệu trước rủi ro tố tụng, chủ động hơn trong việc thu thập chứng cứ và xác định chiến lược khởi kiện hoặc phản tố.
Công ty Luật MT và Cộng sự với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong tố tụng dân sự, sẵn sàng hỗ trợ tư vấn, đại diện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng trong các tranh chấp dân sự tại tòa án. Liên hệ hotline 0987140772 hoặc email info@mtpartners.vn để được tư vấn.
(*) Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý cụ thể.
Từ khóa SEO: tranh chấp dân sự, tố tụng dân sự, Công văn 250/TANDTC-PC, bị đơn giấu địa chỉ, khởi kiện thừa kế, phản tố, Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực, luật sư tố tụng dân sự, MT và Cộng sự.
6